CUỘC CHIẾN ĐẤU MỚI

Dịch từ bài “The Arab world: Religion – The new strife”, The Economist <http://www.economist.com/news/special-report/21698440-there-one-god-yet-different-forms-islam-are-fighting-their-own-version&gt;20160514_srp090

Chỉ có một Thượng đế, thế nhưng các nhánh khác nhau của Hồi giáo lại đang đánh nhau bởi vì các hình thức khác nhau của Ngài.

Những tấm áp phích và những tượng đài khoa trương của Saddam Hussein đã biến mất từ lâu. Hiện giờ những biểu tượng rõ nhất ở Baghdad chính là của Ali và con trai của ông, Hussein (như hình) – được tôn sùng bởi dòng Shia, là hai trong số những người lãnh đạo hợp pháp của Hồi giáo sau cái chết của Thiên sứ (Prophet) Muhammad. Khi vị trí lãnh đạo của vương triều vĩ đại dòng Sunni thuộc về Abbasid, Baghdad đã trở thành một thành phố Shia rõ rệt.

Dưới thời đại của Saddam, những người theo dòng Shia đã bị cầm tù vì đã cố gắng đi thêm 100 cây số trên con đường hành hương từ thủ đô đến Karbala; hiện nay những con đường chính của thành phố đã cấm xe hơi vì lễ Ashura, một lễ hội lớn của dòng Shia, bởi vì có quá nhiều người đã bắt đầu lên đường hành hương. Những chiếc quan tài đựng những chiến binh Shia hy sinh trong các cuộc chiến đấu chống lại các chiến binh của Thượng đế (jihadist) được chất đầy trên những chiếc xe hơi hoặc taxi và được chở đi cùng đoàn hành hương để được chôn cất tại Najaf, một thành phố thánh địa khác nằm ở phía Nam cách khoảng 160 cây số. Những người Sunni ở Baghdad – những người còn lại, bởi sau nhiều năm của cuộc nội chiến đã có nhiều người bị đuổi ra khỏi Baghdad – cảm thấy khó chịu, thậm chí là lo âu ái ngại với thái độ hân hoan chiến thắng của dòng Shia.

Hai nhánh của Hồi giáo chia tách suốt cuộc xung đột (fitna) lớn này, là vì quyền kế vị của Thiên sứ (Prophet) Muhammad. Những người theo dòng Sunni khẳng định rằng quyền lãnh đạo được truyền lại cho bốn vị kế nhiệm chính thống (rashidun caliph) là những người bạn đồng hành của Thiên sứ: Abu Bakr, Omar, Uthman và Ali, anh họ và con rể của Thiên sứ. Sau đó, quyền lực trao cho Umayyads ở Damascus, rồi được nối tiếp bởi triều đại Abbasids ở Baghdad. Những người theo dòng Shia cho rằng ngôi vị kế nhiệm đã bị chiếm đoạt một cách sai trái. Đáng lý nó cần được trao cho dòng dõi của Thiên sứ, đầu tiên là cho Ali và sau đó là cho Hussein. Nhưng Ali đã bị ám sát ở Kufa và được chôn cất gần Najaf, trong khi Hussein bị giết trong một cuộc chiến chống lại Umayyads ở Karbala và được chôn cất ở đó – đã tạo nên tầm quan trọng của hai thành phố này đối với những người Shia.  Lãnh đạo dòng Shia sau đó được trao cho các imam (lãnh đạo dòng Shia) đã cắt đứt quan hệ ở những giai đoạn khác nhau, tùy theo môn phái của họ – chẳng hạn như, phái Zaydi “Fivers” (vị lãnh đạo thứ Năm), phái Ismaili “Seveners” (vị lãnh đạo thứ Bảy) và đa số theo phái “Twelvers” (vị lãnh đạo thứ Mười hai). Giáo phái Twelver dòng Shia trở thành quốc giáo của triều đại Safavid của Ba Tư, đó là lý do tại sao Tổ chức bảo thủ cực đoan dòng Sunni ở Ả rập có khuynh hướng xem những người theo dòng Shia như là kẻ thù ngoại quốc, thậm chí còn không phải là tín đồ Hồi giáo.

Những người theo dòng Shia thường thể hiện các lễ tưởng niệm đầy xúc cảm về hành động tử vì đạo của Ali và Hussein, bao gồm cả các hình thức tự chịu phạt trước công chúng. Họ thường chịu tội vì sự ham thích al-madhlumiya, hay “trạng thái làm nạn nhân”. Dù cho, những ngày này, những người Sunni Ả rập lại là những người cảm thấy và hành xử giống như là những người thua cuộc. Dù cho chiếm đa số người Hồi giáo Ả rập, những người theo dòng Sunni thường cảm thấy bị tước quyền công dân ở chính khu trung tâm Ả rập – bởi đã bị đa số tín đồ Shia ở Iraq tách ra ngoài, sau cuộc tấn công đẫm máu của đế chế Bashar al-Assad ở Syria (thống trị bởi Alawites, một nhánh phân tách từ dòng Shia), bị đe dọa tại Lebanon bởi Hizbullah (một lực lượng dân quân Shia hùng mạnh), và bị phân tách và bị chiếm lĩnh bởi người Israel ở Palestine. Tại Yemen, họ bị tước đoạt quyền lực bởi những chiến binh Houthi, bắt nguồn từ Tổ chức Zaydi.

Các Tổ chức quốc tế của dòng Sunni và Shia hiện nay đang chiến đấu với nhau tại Syria. Những người chiến đấu cho Ngài Assad bao gồm cả những đội quân dòng Shia từ Iraq, Afghanistan và Pakistan, được lãnh đạo bởi Hizbullah và các sĩ quan Tổ chức Cách mạng Hồi giáo Iran (Iran’s Revolutionary Guards Corps – IRGC). Chống lại lực lượng này hiện nay có hai Tổ chức lớn: Tổ chức các chiến binh của Thượng đế (jihadist) của Nhà nước Hồi giáo (Islamic State), đã kết hợp các tình nguyện viên từ nhiều quốc gia, và các đồng minh kém chặt chẽ hơn từ các Tổ chức nổi loạn dòng Sunni người Syria được hỗ trợ ở nhiều mức độ khác nhau bởi các nhà nước láng giềng dòng Sunni, chủ yếu là Ả rập Saudiia, Thổ Nhĩ Kỳ và Jordan. Những cuộc đánh bom liều chết, sự ‘nổi tiếng’ của tên lửa dẫn đường, được thực hiện trước hết bởi người Hizbullah đầu tiên năm 1983; sau đó chúng được sao chép bởi những tín đồ Hồi giáo Palestine và bây giờ trở thành một chiến thuật ưa thích của các chiến binh dòng Sunni.

Hồi giáo hơn bao giờ hết đang là nguyên nhân mà mọi người khẳng định để chiến đấu. Nhưng Hồi giáo nào? Eugene Rogan thuộc Đại học Oxford lập luận rằng số phận của thế giới Ả rập sẽ được quyết định bởi cuộc đấu tranh của ba dòng Hồi giáo đó là: Các Anh em Hồi giáo (Muslim Brotherhood) và Đảng chiến binh salafi (cả hai đều là dòng Sunni) và học thuyết dòng Shia về ‘hệ thống pháp quyền’ (rule of the jurisprudent). Tối thiểu là còn hai dòng khác cũng đóng vai trò quan trọng.

Hồi giáo nắm giữ sức mạnh chính trị vô cùng to lớn. Muhammad không chỉ là một thiên sứ tôn giáo mà còn là người thống trị thế tục và là một chiến binh. Hồi giáo được lan truyền rộng rãi bởi cả ngôn từ và lưỡi gươm. Đối với nhiều tín đồ Hồi giáo, Hồi giáo không chỉ là một niềm tin cá nhân mà còn là một bản thiết kế để tổ chức một xã hội hoàn hảo. Những quan điểm của phương Tây về việc phân tách tôn giáo ra khỏi chính trị được xem là hết sức lố bịch. Những tín đồ Hồi giáo xem tôn giáo của họ cũng như là sự mặc khải cuối cùng của Chúa trời và Kinh Koran chính là lời nói thực của ngài. Do đó có vài Tổ chức có khuynh hướng tuân theo từng chữ một của Kinh Koran. Những nhà cải cách Hồi giáo cố gắng giảm nhẹ ý của “chương lưỡi gươm” – chẳng hạn, “hãy hủy diệt những kẻ tôn sùng thần tượng bất cứ nơi nào ta tìm thấy chúng” (slay the idolaters wherer you find them) – nhưng những nhà tư tưởng jihad đã gạt bỏ điều này bởi cho rằng đó là Hồi giáo giả tạo.

“Những người theo dòng Shia thường được cho rằng họ không tin việc họ thắng được sức mạnh còn những người theo dòng Sunni thì không thể chấp nhận việc họ đánh mất nó, đây có lẽ chính là điều khiến cho xung đột trở nên càng khắc nghiệt.”

Trong những năm đầu sau khi giành độc lập, các nền quân chủ Ả rập đã tranh thủ sự ủng hộ của Tổ chức Anh em Hồi giáo (Muslim Brotherhood) chống lại các nhà chủ nghĩa dân tộc và các nhà cánh tả. Chủ nghĩa Hồi giáo trở nên hưng thịnh từ sau cuộc chiến tranh năm 1967, khi mà chiến thắng của Israel đã làm mất tín nhiệm các nhà chủ nghĩa dân tộc. Sự kiện năm 1979 đã đem lại kết quả vô cùng to lớn: Ai Cập đã ký hiệp ước hòa bình với Israel (vì Thủ tướng nước này, Anwar Sadat, đã bị ám sát bởi những người theo chủ nghĩa Hồi giáo); Ayatollah Khomeini lên nắm quyền lực ở Iran, khiến cho các Tổ chức phần tử cực đoan Hồi giáo dưới tất cả các hình thức hoạt động mạnh mẽ; Juhayman al-Otaybi dẫn đầu một Tổ chức các tay súng cực đoan tiến hành chiếm giữ một thánh đường Hồi giáo lớn tại Mecca và kêu gọi lật đổ Nhà Saud; và việc Liên bang Xô viết xâm chiếm Afghanistan đã kích động những người Saudi (và Hoa Kỳ) để ủng hộ cho họ tiến hành chiến đấu (jihad) chống lại cộng sản.

Sự đổ bộ của quân đội Hoa Kỳ tại Ả rập Saudiia năm 1990 nhằm đánh đuổi lực lượng Iraq ra khỏi Kuwait, và đóng quân ở đây trong nhiều năm để giữ Saddam trong tầm kiểm soát, đưa Osama bin Laden vào con đường chiến đấu (jihad) chống lại Hoa Kỳ. Sự tấn công của Al-Qaeda vào nước Mỹ năm 2001 đã thúc đẩy George W. Bush đến quyết định lật đổ Saddam, đánh đổ sự cân bằng giáo phái ở Iraq và trong khu vực.

Những người theo dòng Shia thường được cho rằng họ không tin việc họ thắng được sức mạnh và những người theo dòng Sunni thì không thể chấp nhạn việc họ đánh mất nó, đây có lẽ chính là điều khiến cho xung đột trở nên càng khắc nghiệt. Những chiến binh jihad Iraq đã chủ ý kích động những người dòng Shia. Lá thư cảnh báo từ Abu Musab al-Zarquawi quá cố, cựu lãnh đạo của al-Qaeda ở Iraq và cha đẻ của Nhà nước Hồi giáo ngày nay, vào năm 2004 được cho rằng cuộc chiến chống lại quân chiếm cứ Hoa Kỳ này có lẽ sẽ dễ dàng. Ông nói mối nguy hiểm thật sự chính là những người dòng Shia, “những con bọ cạp hiểm độc và xảo quyệt”. Ông ấy đã thúc giục những người dòng Shia vào cuộc chiến giáo phái nhằm “đánh thức” thế giới Sunni.

Một nỗi ám ảnh khác của Zarqawi chính là tuyên bố một “Nhà nước Hồi giáo”. Đây là một mục tiêu xa vời đối với cả al-Qaeda và đối với Tổ chức Anh em, nhưng Zarqawi và những môn đệ của ông lại muốn thúc đẩy việc này. Những hành động thể hiện của Tổ chức này đều mang theo tên gọi Nhà nước Hồi giáo, dù cho nhiều tân binh cấp cao xuất thân từ đảng Baath của Saddam. Sau khi tách khỏi al-Qaeda vào đầu năm 2014, và chiếm giữ Mosul vào tháng 6 cùng năm, caliphate được tuyên bố bởi lãnh đạo của IS, Abu Bakr al-Baghdadi: “Vội vã lên, các anh em Hồi giáo, đến Nhà nước của các anh em. Đúng như vậy, đó là nhà nước của các anh em.” Sự kỳ vọng của ông ấy đối với một caliphate, bất chấp những chiêu thức giáo phái và truyền thống Hồi giáo, đã bị bác bỏ thậm chí bởi al-Qaeda. Dù bị suy yếu, nhưng Nhà nước Hồi giáo (IS) đã làm nên những tít báo và tuyển mộ được thêm tân binh. Theo Stephane Lacroix của Sciences Po tại Paris, “Al-Qaeda và Nhà nước Hồi giáo cũng giống như Trotsky và Stalin: một người thì muốn đợi chờ cuộc cách mạng thế giới, một người thì muốn xây dựng ‘chủ nghĩa xã hội ở một quốc gia.’”

Sự nổi lên của IS là một sự quay lại đáng chú ý đối với một Tổ chức từng bị phá hủy bởi “làn sóng” quân sự Hoa Kỳ ở Iraq năm 2007-8. Sự trở lại của Tổ chức này đã dấy lên ba yếu tố: sự rút quân của Hoa Kỳ vào năm 2011; sự tước quyền công dân của những người theo dòng Sunni bởi Thủ tướng dòng Shia, Nuri al-Maliki, người đã tập hợp quân đội với những người trung thành và tiêu diệt lực lượng dòng Sunni được tạo ra bởi Hoa Kỳ; và sự thất bại bạo lực của Syria, sự kiện cho phép IS tạo dựng một căn cứ chắc chắn.

Sự kết hợp của cuộc chiến Syria và Iraq đã trở thành một cuộc xung đột tạo ra những đồng minh xa lại. Iran hành xử theo hướng bảo vệ chính quyền ở Baghdad và ở Damacus; Hoa Kỳ trở thành đồng minh của Iraq nhưng, tối thiểu theo lý thuyết, thì chống lại chính quyền Syria. Nga nói rằng đó là cuộc chiến chống IS nhưng nó lại hầu như là nhằm mục đích cứu Bashar al-Assad khỏi các cuộc nổi loạn khác; người Kurd tại Syria lại là đồng minh với Hoa Kỳ chống lại IS; và với nước Nga chống lại các cuộc nổi loạn.

Những nhà cầm quyền Sunni, đặc biệt là Al Sauds, nhìn nhận bản thân họ bị bao vây bởi những người Shia thâm độc, từ nỗ lực được nhận thấy từ phía Iran khích động những người Shia ở Bahrain đến Iraq, Syria, Lebanon và Yemen. “Iran muốn tái thiết lập một đế chế Ba Tư,” một nhân viên cấp cao Saudi đã tuyên bố. Ả rập Saudi đã đi đến chiến tranh với Yemen sau khi người Houthi nắm giữ thủ đô, Sana’a, và đã di chuyển đến thành phố cảng Aden. Tại Syria, trong khi đó, Ả rập Saudi lại quan hệ chặt chẽ với Thổ Nhĩ Kỳ nhằm xoay chuyển các Tổ chức nổi loạn chủ đạo trở thành một lực lượng mật thiết hơn, được hỗ trợ qua các chuyến hàng tên lửa chống xe tăng do Hoa Kỳ chế tạo. Một lý do mà Al Sauds hành động như là người chiến thắng của dòng Sunni, nói với tư cách là người trong cuộc ở Riyadh, đó là họ đang cố gắng tách những người trẻ dòng Sunni ra khỏi Daesh.

Đối với việc này, Iran lại biết ơn Syria bởi là quốc gia Ả rập duy nhất quan hệ với họ trong suốt cuộc chiến tranh dài chống Iraq, và xem họ như là một cầu nối sống còn đến Hizbullah. Nhưng họ lại thường thiên vị với những đội quân khách thuộc các nhà nước yếu thế, như ở Lebanon. Và những ngày này lời cáo buộc của Hizbullah về việc trở thành tấm chắn chống lại Israel cho toàn thể tín đồ Hồi giáo đang không còn sức thuyết phục; thay vào đó họ đã trở thành kẻ tiên phong của dòng Shia.

Ngay cả ở nơi không có sự chia rẽ giáo phái giữa dòng Sunni và dòng Shia, thì vẫn có những xung đột khác thay vào đó. Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar là những người ủng hộ đầu tiên cho Tổ chức Anh em Hồi giáo; Ai Cập, Tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) và ở một chừng mực ít hơn, thì Ả rập Saudi chống đối lại họ. Đối với nền chính trị chia tách của Libya, các đồng minh thân-Tổ chức Anh em ủng hộ chính quyền “Bình minh” tại Tripoli, trong khi các Tổ chức khác lại quay trở về với liên minh “Chân chính” ở Benghazi.

Kể từ cuộc đảo chính ở Ai Cập năm 2013 Tổ chức Anh em Hồi giáo đã quay trở lại. Những người tha hương ở Istanbul và Doha than khóc về sự kém cỏi của Muhammad Morsi, tổng thống của Tổ chức Anh em tuổi đời ngắn ngủi của Ai Cập. Bằng việc cưỡng bức thông qua một bản hiến pháp đầy tranh cãi và những người tự do thờ ơ, ông đã tạo nên tình thế cho quân đội hất cẳng ông. Một vài người theo Tổ chức Anh emtừ các quốc gia khác đã khuyến khích ông nên hòa giải. “Nếu Tổ chức Anh em Hồi giáo chơi theo cách khác, thì họ đã có thể tránh được toàn bộ cuộc đảo chính này,” H.A.Heller, chuyên gia cố vấn Hoa Kỳ, thuộc Hội đồng Atlantic nói. “Họ đã bị giết hại – một cách sai trái – bằng ý tưởng rằng họ đang sống trong một thời đại mới, và không còn cần giữ lại nữa.”

Ở Tunisia, Ennahda, một đảng lấy cảm hứng từ Tổ chức Anh em nhưng không còn là một phần của Tổ chức này nữa, đã hành động khôn ngoan hơn. Đảng này đã thắng được đa số phiếu bầu trong cuộc bầu cử hội đồng lập hiến năm 2011 và nắm quyền một liên minh rộng lớn. No đã đầu hàng một chính phủ kỹ trị vào tháng Giêng năm 2014, sau khi Hiến pháp thông qua.

Morroco đã tránh được các cuộc buổi tình đường phố trên quy mô lớn năm 2011, và vị vua đã được trang bị một chính phủ được dẫn dắt bởi Hồi giáo vào tháng Mười một năm đó. Như là một phần của sự nỗ lực chống phái cấp tiến diện rộng sau hàng loạt các cuộc tấn công khủng bố ở Casablanca năm 2003, nhà nước Morocco đang từ từ nắm giữ lại quyền kiểm soát trực tiếp thánh đường. Một trường mới cho các imam, bao gồm cả những imam ngoại quốc từ hạ Sahara châu Phi cũng như Pháp và Bỉ, được mở ra ở Rabat vào năm 2015. Họ theo đuổi việc xúc tiến một hình thức Hồi giáo ôn hòa, dựa trên trường phái tư tưởng Maliki của Morocco và, chủ yếu là, việc chấp nhận vai trò truyền thống của đức vua như là một “Người Lãnh đạo Đức tin”.

Bắt đầu bằng chương trình tiên phong nhằm huấn luyện phụ nữ thành những mourchidas (cố vấn giáo hội). Một trong số họ, người không muốn được nêu tên, giải thích rằng nhiệm vụ của cô ấy là làm việc với phụ nữ và trẻ em về nhiều vấn đề khác nhau, bao gồm cả việc học chữ và chống lại việc lạm dụng chất kích thích. “Chúng tôi thỉnh thoảng tình cờ gặp những nhà thuyết giáo đang truyền bá một thông điệp cực đoan. Chúng tôi phải can thiệp bảo họ thay đổi bài diễn thuyết của họ. Khi chúng tôi bắt đầu có rất nhiều người theo chủ nghĩa tôn giáo cực đoan; chúng tôi nhận thấy bây giờ nó đã sụt giảm.”

Điều nguy hiểm chính là tất cả việc này đều bị bỏ qua bởi những người Hồi giáo tự xưng là “nhà nước Hồi giáo”. Tuy vậy cuộc vận động dường như vẫn có một vài ảnh hưởng. Lấy thực tế như trường hợp Abdelkrim Chadli, một nhà thuyết giáo Salafy, người đã bị bắt giam sau hàng loạt vụ đánh bom ở Casablanca năm 2003, bị buộc tội về việc truyền cảm hứng cho các chiến binh (jihadist) (điều mà ông đã phủ nhận) thông qua các bài viết của mình. Được xá tội bởi nhà vua vào năm 2011, hiện nay ông đã khuyến khích các salafy gia nhập vào một đảng với vỏ bọc là đảng bảo hoàng mang tên gọi là Phong trào Xã hội và Dân chủ (được thiết lập bởi một cựu ủy viên cảnh sát). Trong vòng ba đến bốn năm, ông ấy hy vọng, nó sẽ có thể thắng được cuộc bầu cử và thúc đẩy tiến trình Hồi giáo hóa xã hội. Đó là một sự thay đổi ấn tượng của một quan điểm Hồi giáo, được tạo nên phần nào là vì nỗi sợ hãi những sự xáo trộn ở khắp mọi nơi, phần là vì những hạn chế mạnh mẽ bởi nhà vua, và phần là vì sự nhận thức tốt của ông trong việc trao cho những người Hồi giáo một phương tiện thỏa mãn nhu cầu chính trị. “Ngày nay tất cả các salafy là những người bảo vệ trước tiên cho nền quân chủ này”, ông Chadli cho biết, “Chúng tôi xem Morocco như là một hình mẫu nhà nước Hồi giáo – ngay cả khi họ có những quầy bar.”

Advertisements